|
ĐẢNG VỚI DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI
Trần Đắc Lợi – Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp
Trong toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam có rất nhiều trang sử hào hùng, vẻ vang rất đáng tự hào nhưng có thể khẳng định chắc chắn rằng chưa bao giờ Việt Nam lại được biết đến và ngưỡng mộ rộng rãi trên thế giới như trong hơn 60 năm gần đây. Có hai kỳ tích nổi bật được nói đến nhiều nhất, có ý nghĩa lịch sử to lớn và mang tính thời đại sâu sắc là những thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ 20 và những thành tựu của công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội trong gần 25 năm qua. Điều đáng chú ý là sự ngưỡng mộ đó được chia sẻ rất rộng rãi, không chỉ trong các lực lượng dân chủ, tiến bộ, các nước đang phát triển mà cả bới nhiều chính khách phương Tây vẫn tự coi mình thuộc “thế hệ Việt Nam”, cả trong cộng đồng Phát giáo, Thiên chúa giáo lẫn Hồi giáo. Sự ngưỡng mộ đó có thể tìm thấy đồng thời cả ở Palestine , Iran lẫn Itxrael, cả ở hai miền Nam - Bắc Triều Tiên, là đồng thuận của các đảng chính trị vốn có quan điểm và lợi ích khác nhau ở Ấn Độ. Đối với rất nhiều người dân các nước, Việt Nam là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, của lương tri, là tấm gương và nguồn cổ vũ trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, vì chính nghĩa, vì công bằng và tiến bộ xã hội. Và ngay cả nhiều chính khách cánh hữu có quan điểm khác biệt với ta cũng đều nói về Việt Nam với tất cả sự tôn trọng. Rất ít nước có thể có được điều đó và đó là điều rất không dễ trong một thế giới rất đa dạng và diễn biến phức tạp ngày nay. Điều đó cũng chứng tở rằng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong những thập kỷ qua không chỉ mang lại lợi ích, làm thay đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn phù hợp với các giá trị chân chính, đích thực của nhân loại, với xu thế của thời đại.
Đó là những thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng trong 80 năm qua đã không chỉ phát huy được truyền thống quý báu, nhân lên gấp bội sức mạnh của dân tộc mà còn nâng dân tộc lên tầm thời đại.
Tại sao Đảng ta lại làm được điều đó?
Trước hết, đó là từ tôn chỉ, lý tưởng tót đẹp và bản chất cách mạng của Đảng. Mỗi một tổ chức, cá nhân có thể có những mục đích, động cơ khác nhau nhưng không có gì cao đẹp bằng mục tiêu giải phóng con người, xây dựng một xã hội mà trong đó mọi người đều tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Lịch sử phát triển tổng quát của nhân loại là quá trình liên tục giải phóng con người, và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là sự bước tiếp tất yếu trên con đường đó. Các cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay một lần nữa cho thấy rõ hơn bao giờ hết sự bề tắc, tính chất phản xã hội, phi nhân văn và phản tự nhiên của mô hình phát triển chạy theo lợi nhuận, khẳng định sự cần thiết của mô hình phát triển vì con người, lấy con người làm trung tâm và thân thiện với môi trường thiên nhiên. Điều đó chỉ có thể thực hiện trong một xã hội có lý tưởng, hoạt động trên cơ sở giá trị chung, lợi ích chung và không thể thực hiện được trong một xã hội vận hành chỉ dựa trên dộng cơ lợi nhuận và vì lợi ích của các cá nhân. Vì vậy, mục tiêu phấn đấu xây dựng xã hội XHCN của Đảng ta là cao đẹp và phù hợp với lợi ích của dân tộc và yêu cầu của thời đại.
Ở phương Tây khi nói về đảng người ta thường chỉ đề cập đến khía cạnh số lượng mà không chú ý đến chất lượng, chỉ nhấn mạnh đến mặt hình thức mà bỏ qua mặt bản chất. Nếu một đảng chính trị chỉ gắn với lợi ích của một bộ phận thiếu số thì không thể đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc và do đó, phải cớ nhiều đảng khác thì mới phàn ánh được đầy đủ hơn lợi ích của các tầng lớp trong xã hội. Nhưng nếu có một chính đảng không có lợi ích riêng mà thực sự toàn tâm toàn ý hoạt động vì lợi ích của nhân dân lao động là lực lượng đa số, có vai trò quyết định trong việc kiến tạo và phát triển xã hội thì đảng đó hoàn toàn có thể đại diện cho lợi ích của cả dân tộc. Tương tự như vậy, các đảng được tổ chức như các câu lạc bộ chính trị, hoạt động chủ yếu trên nghị trường và để vận động bầu cử cho đảng mình không thể so sánh được với chính đảng được tổ chức chăt chẽ, bám rễ từ cơ sở, từ trong nhân dân, có quan hệ mật thiết với nhân dân, hoạt động vì lợi ích hàng ngày của người dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là một chính đảng như vậy và do đó đã thực hiện được vai trò lãnh đạo đối với toàn dân tộc Việt Nam trong suốt 80 năm qua. Và đó là thực tiễn lịch sử của thành công chứ không còn là vấn đề giả thuyết về việc liệu một đảng có thể hay không có thể lãnh đạo được dân tộc. Vấn đề chính ở đây là đảng như thế nào và vì ai?
Sự kiên định, trung thành với tôn chỉ, mục đích cao đẹp, với bản chất cách mạng là một trong những tố chất truyền thống đã làm nên sức mạnh của Đảng ta.
Yếu tố thứ hai là Đảng ta có các đường lối, chiến lược và sách lược đúng đắn và hết sức sáng tạo trong các giai đoạn cách mạng của đất nước. Có thể nói là trong 80 năm qua, để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên, Đảng ta đã phải xử lý nhiều tình thế hết sức phức tạp chưa có tiền lệ, phải giải quyết những vấn đề vô cùng to lớn có ý nghĩa lịch sử và mang tầm thời đại. Chúng ta hãy cùng nhớ lại về những ngày làm Cách Mạng Tháng Tám khi Đảng mới có 5000 đảng viên trong cả nước, đến tình thế “hiểm nghèo” khi Nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ bị bao vây bới thù trong, giặc ngoài đã tiến hành chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, tổ chức được cuộc bẩu cử dấn chủ, tự do đầu tiên trong lịch sử dân tộc, xây dựng được Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta hãy nhớ lại cuộc chiến đấu không cân sức chống lại cuộc tái xâm lược của đế quốc Pháp được Mỹ yểm trợ, với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”, khi lần đầu tiên một dân tộc thuộc địa đã đánh bại quân đội viễn chinh của một nước thực dân, đế quốc. Chúng ta cũng đừng quên rằng khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với lực lượng quân sự hùng hậu gồm hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hâu, với lượng vũ khí khổng lồ và tối tân nhất thì không ít, bạn bè, đồng chí của chúng ta ở các nước đã rất lo lắng về khả năng chiến thắng của chúng ta. Và cuộc kháng chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước đã làm cho Việt Nam trở thành “lương tri của thời đại”, nhân dân các nước đã bất chấp đàn áp, xuống đường vì Việt Nam, có nước người dân đã gọi tên mình là “Việt Nam”, ước mơ “tỉnh dậy được làm người Việt Nam”, thậm chí hy sinh thân mình, tự thiêu vì Việt Nam. Ngày Chiến thắng lịch sử 30.4.1975 đã trở thành ngày hội thực sự không chỉ của non sông mà còn là của toàn thể nhân dân yêu chuộng hoà bình, của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Chúng ta cũng không thể quên thời kỳ khó khăn và hiểm nghèo khi đất nước bị tàn phá sau chiến tranh lại bị cấm vận, cô lập, phải chiến đấu chống lại bọn diệt chúng hiếu chiến Khơ me Đỏ, phải bảo vệ biên cương, khi ở trong nước thì lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu sắc còn ở bên ngoài thì Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, sụp đổ. Đó là thời điểm mà các thế lực thù địch đều lớn tiếng “dự báo” về sự “sụp đổ tiếp theo, không tránh khỏi” của chế độ XHCN ở Việt Nam. Nhưng những điều diễn ra trên thực tế trong gần 25 năm qua thì đã hoàn toàn ngược lại: kinh tế liên tục phát triển, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, thế và lực của đất nước không ngừng được tăng cường, quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng và vị thế quốc tế của Việt Nam không ngừng được củng cố, nâng cao.
Nhìn lại chặng đường vừa qua, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu về đường lối và phương pháp lãnh đạo của Đảng. Đó là sự trung thành bất biến với tôn chỉ, mục đích, với lợi ích giai cấp và dân tộc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam; đó là tư tưởng “dân là gốc”, “đại đoàn kết”, “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại”; đó là bản lĩnh “nhìn thẳng vào sự thật” để sửa chữa các khuyết điểm, sai lầm và tiến lên phía trước.
Một nhân tố quan trọng có vai trò quyết định là chất lượng của đội ngũ lãnh đạo và đảng viên của Đảng. Đảng ta có may mắn, có quyền tự hào là Đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, xây dựng và rèn luyện. Hồ Chí Minh không chỉ là người Việt Nam được thế giới biết đến, kính trọng nhất mà tư tưởng, phong cách và đạo đức của Người cho đến nay vẫn mang tính thời đại hết sức sâu sắc, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu và xu thế suy giảm niềm tin của nhân dân các nước đối với các chính khách ngày nay. Các tư tưởng của Bác đã được thể hiện thành những bài học, trong đường lối của Đảng; đã có nhiều công trình, bài viết về phong cách, đạo đức và lối sống của Người, do đó ở đây tôi chỉ xin nhấn mạnh, nêu thêm một vài thí dụ để làm rõ thêm tính thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển.
Đối với Bác, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân mà trước hết là nhân dân lao động, của những người có hoàn cảnh khó khăn nhất trong xã hội. Do đó Người luôn quan tâm đến điều kiện sống thực tế của công nhân, nông dân, dành thời gian để thăm hỏi những người có hoàn cảnh khó khăn nhất và yêu cầu các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể chăm lo cho họ. Quan điểm của Bác về phát triển là quan điểm phát triển tổng thể, toàn diện, hài hoà giữa yếu tố vật chất và tinh thần, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, nâng cao dân trí, sức khoẻ của nhân dân và đạo đức của xã hội. Vì vậy mà Bác luôn quan tâm đến việc phát triển văn hoá, giáo dục, động viên nhân dân rèn luyện thể lực, giữ gìn vệ sinh, đặc biệt quan tâm giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, cho các cháu thiếu nhi. Hồ Chí Minh cũng là một trong những nhà lãnh đạo sớm có nhận thức về tầm quan trọng của môi trường, về yêu cầu phát triển hài hoà với thiên nhiên. Ngay trong thời kỳ đất nước còn phải tập trung cho cuộc đấu tranh thống nhất Bác đã nhấn mạnh phải bảo vệ rừng, đã phát động Tết trồng cây trong cả nước và kể cả trong Di chúc để lại cũng gửi gắm tâm huyết về bảo vệ môi trường.
Tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh là tài sản vô giá và là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng ta. Nhiều đồng chí lãnh đạo và đảng viên thuộc các thế hệ đã thấm nhuần tư tưởng của Người, noi theo tấm gương của Người, đã tận tuỵ cống hiến, xả thân vì nước, vì dân, thực sự cần kiệm, liêm chính, nói đôi với làm, đã góp phần làm cho Đảng trở thành “là đạo đức, là văn minh”, được quần chúng nhân dân tin cậy, tín nhiệm, ủng hộ và nhờ đó, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Vì vậy, hôm nay, nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng, chúng ta có thể một lần nữa nhắc lại câu nói của Bác Hồ cách đây 50 năm “Với tất cả sự khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta có thể nói rằng: Đảng ta vĩ đại thật”
Thưa các đồng chí, Mục tiêu, lý tưởng XHCN là cao đẹp, là cần thiết và phù hợp với lợi ích của dân tộc và nhân loại, nhưng xây dựng CNXH không phải là quá trình tự phát mà là cả một sự nghiệp hướng đích, lâu dài, đòi hỏi sự lãnh đạo liên tục, ổn định của chính đảng của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, do quyền lực đi đôi với quyền lợi nên mọi sự cầm quyền và nhất là một mình cầm quyền lâu dài luôn kèm theo nguy cơ quan liêu hoá, trì trệ và tha hoá, tham nhũng. Thực tiễn cho thấy việc một số Đảng có lịch sử rất vẻ vang nhưng sau khi nắm quyền đã hoặc là xa rời tôn chỉ mục đích, hoặc mắc sai lầm về đường lối, chiến lược, hoặc đội ngũ cán bộ lãnh đạo sa vào hưởng lạc, xa dân, độc đoán, v.v...đã dẫn đến hủy hoại toàn bộ thành quả của cách mạng. Đảng và Bác đã ý thức được vấn đề này từ rất sớm. Bác Hồ đã từng cảnh báo về nguy cơ thất bại đối với một Đảng hôm nay có thể là vĩ đại nhưng nếu không biết tự đổi mới, chỉnh đốn, rèn luyện mình. Vì vậy, Bác luôn nhấn mạnh yêu cầu tự đổi mới, chỉnh đốn Đảng, thực hiện “thật thà phê bình và tự phê bình”, “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” trong Đảng. Nhờ đó mà ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, Đảng ta vẫn luôn giữ được bản chất cách mạng và sức chiến đấu, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ.
Trong thời kỳ đổi mới, việc sử dụng kinh tế thị trường và thực hiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế là cần thiết để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng CNXH ở nước ta và trên thực tế đã đem lại những thành tựu rất to lớn, cơ bản trong những năm qua. Tuy nhiên, sự trỗi dậy của các giá trị vật chất, chủ nghĩa thực dụng cùng với cuộc tấn công toàn diện về văn hoá, tư tưởng từ bên ngoài đã và đang tác động ngày càng trực tiếp, sâu rộng và phức tạp đối với xã hội Việt Nam. Chủ nghĩa cá nhân, cơ hội và đặc biệt là tham nhũng trở thành một trong những nguy cơ lớn đối với Đảng và cả chế độ ta. Không ít đảng viên mơ hồ về nhận thức, phai nhạt về lý tưởng nhưng vẫn ở trong hàng ngũ của Đảng để tìm cách tiến thân vì lợi ích cá nhân. Cũng có những đảng viên thiếu gương mẫu, thiếu công tâm, làm việc kém hiệu quả, thậm chí lo cho việc chung thì ít mà lo cho bản thân thì nhiều. Và cũng có những đảng viên thiếu tôn trọng nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Đấu tranh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt Đảng ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, xuê xoa, nhiều lúc trở thành nơi hoặc để giải quyết mâu thuẫn cá nhân hoặc để dung hoà lợi ích nội bộ. Hiện tượng đảng viên không gương mẫu và sự giảm sút về tính chiến đấu của một số tổ chức Đảng là một nguyên nhân quan trọng làm ảnh hưởng tới niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với Đảng.
Đó là lý do mà trong những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, biện pháp để chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ và đặc biệt là triển khai rộng rãi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI sắp tới của Đảng cũng với việc quyết định các quan điểm, đường lối chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước cũng sẽ tiếp tục đề ra các chủ trương, biện pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới.
Chúng ta tin tưởng rằng, với mục tiêu, lý tưởng cao cả và bản chất cách mạng, Đảng ta sẽ tiếp tục phát huy được truyền thống vẻ vang và những bài học kinh nghiệm quý báu của 80 năm “lịch sử bằng vàng”, sẽ tiếp tục xứng đáng là “lương tâm và trí tuệ của thời đại”, tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thách thức, đến những thắng lợi vinh quang mới.
Trong khi đó, với tư cách là cán bộ, đảng viên của Đảng, là tổ chức cơ sở Đảng, chúng ta cần phải làm gì?
Trước hết, chúng ta cần không ngừng tự nâng cao hiểu biết về lý luận và thực tiễn, về tình hình thế giới và của đất nước để phân biệt được bản chất, xu thế với hiện tượng của các sự việc, để củng cố niềm tin vào lý tưởng XHCN và con đường đã lựa chọn. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta chưa có được chủ nghĩa xã hội mà đang trong quá trình xây dựng những nền tảng ban đầu của nó. Vì thế, bên cạnh những mặt tích cực, những nhân tố XHCN đích thực sẽ có sự đan xen của những mặt tiêu cực, những nhân tố phi xã hội chủ nghĩa; bên cạnh những việc làm tốt chắc chắn sẽ có những việc làm chưa tốt, thậm chí lệch lạc, sai lầm; xã hội sẽ có những diễn biến rất đa dạng, thậm chí đa chiều; các thế lực thù địch sẽ không ngừng chống phá nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Điều quan trọng nhất là phải có nhận thức tỉnh tảo, đúng đắn, đừng vì một số hiện tượng tiêu cực, một số việc làm chưa tốt hay biểu hiện chệch hướng, vì một số cán bộ tham nhũng, cơ hội mà đánh mất niềm tin; đừng vì những khó khăn, thậm chí sự thoái trào trước mắt mà suy nhụt ý chí. Mỗi chúng ta trên cương vị của mình hãy ủng hộ cái tốt, cái đúng, hãy làm mọi việc có thể vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, hãy mạnh dạn đấu tranh với mọi biểu hiện lệch lạc, tiêu cực, đi ngược lại với lợi ích của tập thế, của nhân dân lao động và quốc gia. Trong Đảng bộ chúng ta có khá nhiều cán bộ, đảng viên thực sự tận tuỵ với công việc, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì tập thể và lơi ích quốc gia, biết tiết kiệm của công, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần xây dựng tập thể đoàn kết, lành mạnh, không những được cán bộ, quần chúng trong đơn vị cơ quan tín nhiệm mà còn được các đối tác trong và ngoài nước, được bạn bè quốc tế tin tưởng, quý trọng. Đó chính là sức mạnh quan trọng nhất của Đảng bộ và cơ quan chúng ta. Đó cũng chính là những tấm gương sáng ngay trước mắt để chúng ta học tập và noi theo. Đồng thời, chúng ta không thể thờ ơ với những ai trì trệ, coi Liên hiệp là chỗ an thân, vô cảm với công việc và tập thể, phải kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện tiêu cực, nhũng nhiễu, lạm dụng hay lãng phí của công, mọi hành động vô tổ chức, kỷ luật hoặc phá hoại đoàn kết nội bộ.
Năm kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Đảng cũng là năm của nhiều ngày lễ lớn, là năm tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XI và cũng là dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Thay mặt Đảng uỷ, tôi kêu gọi tất cả các cán bộ, đảng viên trong cơ quan thường trực Liên hiệp hãy phát huy truyền thống tốt đẹp, ra sức thi đua tự rèn luyện và cống hiến để mỗi một chúng ta đều trở nên tốt hơn so với chính mình, cơ quan ta làm được nhiều việc có ích và hiệu quả hơn, tập thể chúng ta đoàn kết, trong sáng, vững mạnh hơn. Đó là tâm niệm lớn nhất xin đuợc gửi gắm đến tất cả các đồng chí nhân ngày kỷ niệm trọng đại này của Đảng của chúng ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta! |